Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Kinh tế học cơ bản

- Các quyết định kinh doanh và các quyết định của người tiêu dùng và chính phủ  ảnh hưởng tới nền kinh tế và, ngược lại, cũng chịu ảnh hưởng của nó. 

- Luôn theo sát tin kinh tế

o Hiểu bối cảnh mà họ đưa ra các quyết định thuê mướn hoặc sa thải nhân công,xây dựng hoặc bán một nhà máy, chi tiêu nhiều hay ít hơn cho quảng cáo.

o Hiểu các tin kinh tế và hiệu ứng của nền kinh tế lên công việc kinh doanh. 

o Hiểu được bức tranh toàn cảnh khi bạn ra quyết định với tư cách một nhà quản trị (hoặc người tiêu dùng, hay một công dân) 



Nền kinh tế quốc dân của chúng ta: dễ dàng như C + I + G 
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đo lường quy mô của một nền kinh tế quốc dân, là tổng giá trị của tất cả hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong phạm vi một quốc gia, kể cả hànghóa và dịch vụ do các công ty nước ngoài sản xuất tại quốc gia đó.


GDP = C + I + G + (Ex – Im) 
o C = tổng tiêu dùng của các hộ gia đình (chi tiêu của người tiêu dùng)
o I = tổng đầu tư (chi tiêu của các đơn vị kinh doanh)
o G = tổng chi tiêu của chính phủ (tỉnh, thành phố và địa phương)
o (Ex – Im) = xuất khẩu ròng (xuất khẩu trừ nhập khẩu)
- Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bao gồm giá trị của tất cả các hàng hóa và dịch vụ được sản xuất bởi các công ty của quốc gia đó, kể cả khi các công ty này được đặt ở nước ngoài.
- Hiện nay, hầu hết các nhà kinh tế sử dụng GDP, thay vì GNP, để đo lường nền kinh tế của một quốc gia. 
Nhập khẩu và xuất khẩu: dễ đến, dễ đi 


Quốc gia xuất khẩu hàng hóa
o Khi bán hàng hóa cho thị trường nước ngoài, nghĩa là cho người tiêu dùng, doanh nghiệp hoặc chính phủ của một quốc gia khác. Xuất khẩu mang tiền về cho quốc gia đó và nhờ đó làm tăng GDP.


Một quốc gia nhập khẩu hàng hóa
o Khi mua hàng hóa từ các nhà sản xuất nước ngoài. Tiền dùng để mua hàng nhập khẩu sẽ đi ra khỏi quốc gia đó, và GDP giảm.


Cán cân thương mại dương 
o Nếu giá trị xuất khẩu ròng là dương, quốc gia đó có cán cân thương mại dương.
Nếu giá trị xuất khẩu ròng là âm, quốc gia đó có cán cân thương mại âm. 
o Hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều muốn: 
§ Nền kinh tế là lớn chứ không nhỏ và phải đang phát triển.
§ Không muốn có cán cân thương mại âm
§ Cố gắng bảo vệ các thị trường của họ.
o Chủ nghĩa bảo hộ, sử dụng các rào cản để hạn chế nhập khẩu. Các rào cản này bao gồm: 
§ Thuế quan (thuế suất hoặc thuế phạt đánh vào hàng xuất khẩu)
§ Những quy định nghiêm ngặt về những hàng hóa được phép nhập khẩu.



Thương mại tự do – thương mại không bị các rào cản ngăn trở 
o Đã trở thành một xu hướng áp đảo ở hầu hết các quốc gia. Ủng hộ thương mại tự do bởi nó: 
§ Đem lại cho người tiêu dùng sự lựa chọn tốt nhất về sản phẩm
§ Với mức giá rẻ nhất.
§ Sở dĩ như vậy là vì một số quốc gia sản xuất một số sản phẩm tốt hơn so với các quốc gia khác


Khu vực mậu dịch tự do 

o Lợi ích của thương mại phi rào cản, một loạt các quốc gia đã thiết lập khu vực mậu dịch tự do. 
o Trong một khu vực mậu dịch tự do, các quốc gia thành viên: 
§ Dỡ bỏ hầu hết các rào cản thương mại như thuế
§ Các thủ tục tài liệu phức tạp và các tiêu chuẩn sản phẩm không cần thiết.
§ Đồng ý với việc di chuyển tự do hơn vốn và lao động qua các biên giới quốc gia – đó là trường hợp của Liên minh Châu Âu.
Liệu xuất khẩu có thể làm nền kinh tế chuyển động? 
- Một nền kinh tế phụ thuộc mạnh vào xuất khẩu, đặc biệt là chỉ một mặt hàng, rất dễ tổn thương vì suy thoái. Nền kinh tế đó tồn tại hay không tồn tại được là bởi chính sách thương mại và bởi mặt hàng xuất khẩu chính của nó, bất kể mặt hàng đó là gì. 
Tăng trưởng là tốt 
- Mức sống là chất lượng tổng thể cuộc sống được một nền kinh tế cung cấp. 
GDP: mọi yếu tố đều kết nối với nhau 
- Công thức tính GDP: tất cả các yếu tố trong công thức có liên quan đến nhau 
- Trong một nền kinh tế, mọi thứ – mọi hoạt động, giao dịch, con người và tổ chức – đều gắn với nhau một cách trực tiếp hay gián tiếp. 
- Thu nhập bằng với chi tiêu: 
o Vì nền kinh tế được gắn kết nội tại, nên số tiền mà người này hay doanh nghiệp này chi tiêu thì một người khác hay doanh nghiệp khác nhận được, trở thành thu nhập.
o Về bản chất thì tổng chi tiêu, tổng thu nhập và GDP là như nhau.
- Chu kỳ kinh doanh là một mô hình lặp lại của các thời kỳ mở rộng và thu hẹp trong một nền kinh tế. 
o Thời kỳ mở rộng còn được gọi là phục hồi
o Thời kỳ thu hẹp được gọi là suy thoái.
o Một cuộc suy thoái xảy ra khi hai quý thu hẹp liên tiếp – tức là tăng trưởng kinh tế nhỏ hơn 0.

Cái gì tăng lên rồi cũng phải giảm xuống 

- Chu kỳ kinh doanh tồn tại bởi có dao động về cầu (một cách nói khác của chi tiêu).

C + I + G + (Ex – Im) là tổng cầu
o Tiêu dùng hộ gia đình chính là cầu của người tiêu dùng.
o Chi tiêu của doanh nghiệp là cầu đầu tư.
o Tiêu dùng của chính phủ là cầu chính phủ.
o Xuất khẩu là cầu nước ngoài về hàng hóa của một quốc gia.
o Nhập khẩu là cầu trong nước về hàng hóa nước ngoài.
- Các dao động của cầu có xu hướng không thể dự đoán về cả thời gian và cường độ.
Thời kỳ suy thoái luôn theo sau thời kỳ phục hồi, và phục hồi lại luôn theo sau suy thoái. Chu kỳ kinh doanh không bao giờ dừng lại. 
Lần theo chu kỳ kinh doanh 
- Nên hiểu tác động của các chu kỳ kinh tế tới hoạt động kinh doanh của mình. 


Thời kỳ phục hồi 

o Người tiêu dùng quyết định cần chi tiêu, tức là cầu, tăng lên. Trong công thức GDP, C tăng.
o Để thỏa mãn nhu cầu tăng lên này, ngành công nghiệp tăng năng suất. Điều này làm tăng đầu tư I.


Thời kỳ đi xuống 
o Cầu cũng sẽ phải giảm.
§ Người tiêu dùng đạt tới điểm dừng chi tiêu
§ Các doanh nghiệp đã đạt tới điểm đầu tư
§ Hoặc một sự kiện nào đó cả hai phải tìm cách ẩn náu, giảm chi tiêu và bắt đầu tiết kiệm.
Bùng nổ và đổ vỡ 
- Bùng nổ xuất hiện khi cầu tăng mạnh trong một thời kỳ lâu dài và trên phạm vi rộng.
Bùng nổ tiếp diễn trong một khoảng thời gian đủ dài với một mức độ đủ mạnh có thể làm: 
o Kinh doanh mở rộng quá mức
o Hoặc làm tăng giá cả, gây ra lạm phát
- Nếu doanh nghiệp và người lao động cắt giảm chi tiêu đủ mạnh và trong một khoảng thời gian đủ dài thì một thời kỳ suy thoái bắt đầu.
- Đổ vỡ là một từ lóng mà người ta dùng để mô tả sự kết thúc đột ngột của thời kỳ bùng nổ 
Vai trò của chính phủ 
- Chính phủ có một vai trò tích cực trong hầu hết các nền kinh tế hiện đại. 
- Chính phủ chỉ có hai nguồn tiền để chi tiêu: thuế và nợ. 
o Hầu hết tiền tiêu dùng của chính phủ đều bắt nguồn từ thuế đánh trên người tiêu dùng và doanh nghiệp.
- Trong thời kỳ suy thoái: 
o Thu nhập và chi tiêu của người tiêu dùng và doanh nghiệp đều giảm,
o Các khoản thu từ thuế cũng giảm.
o Trong thời kỳ phục hồi ngược lại
Chính phủ muốn gì? 
- Về cơ bản, chính phủ muốn nền kinh tế có trật tự: 
o Một đồng tiền mạnh
o Tỷ lệ thất nghiệp thấp
o Nền kinh tế tăng trưởng bền vững
- Ví dụ ở Mỹ, chính phủ muốn: 
o Một đồng tiền với mức lạm phát (là sự tăng giá nhanh, làm giảm giá trị của đồng tiền) tối thiểu.
o Chính phủ muốn mức thất nghiệp càng gần với mức 4% càng tốt.
o Và chính phủ muốn sự tăng trưởng bền vững, trung bình vào khoảng 3%/năm trong dài hạn
Sự hoán đổi lạm phát và thất nghiệp 
- Chỉ có thể có: 
o Mức lạm phát thấp cùng tỷ lệ thất nghiệp cao
o Hoặc tỷ lệ thất nghiệp cao và lạm phát thấp.
- Lạm phát chỉ sự gia tăng giá cả làm suy giảm giá trị của đồng tiền. Mức giá này có thể tăng từ từ hoặc nhanh chóng.
o Nếu giá cả tăng từ từ, người tiêu dùng có thể điều chỉnh thói quen chi tiêu và thu nhập của họ để tăng lên một cách tương ứng. 
o Lạm phát nhanh – hay còn gọi là lạm phát phi mã – có thể làm nền kinh tế mất ổn định, bởi mọi người không thể phụ thuộc vào sức mua của đồng tiền. 
- Tiền tiết kiệm của mọi người bị mất giá và họ mất lòng tin vào đồng tiền và, nếu việc này diễn ra trong một thời gian đủ dài, họ sẽ mất lòng tin vào chính phủ. 



Nền kinh tế nóng 
o Một nền kinh tế được coi là “quá nóng” khi: 
§ Cầu tăng trong thời kỳ phục hồi đẩy giá của mọi thứ tăng lên.
§ Đó là lạm phát, được định nghĩa là việc quá nhiều tiền (quá nhiều cầu) đuổi theo một số lượng quá ít hàng hóa.
§ Khi cầu vượt quá năng lực sản xuất, người tiêu dùng phải “đấu giá” để mua được hàng. Và người kinh doanh biết rằng họ có thể đòi những mức giá cao hơn khi cầu cao.
§ Mặt tốt của tình hình này là tỷ lệ thất nghiệp thấp vì các doanh nghiệp sẽ thuê tất cả nhân công để có được năng lực sản xuất mới.
§ Vì vậy, trong thời kỳ phục hồi, và đặc biệt là trong một nền kinh tế quá nóng, có áp lực lạm phát nhưng đồng thời cũng có tỷ lệ thất nghiệp thấp.


Nền kinh tế nguội 
o Nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy thoái, cầu giảm được gọi là nền kinh tế nguội.
lạm phát thấp thì tỷ lệ thất nghiệp cao.
- Nền kinh tế là động, luôn bị chệch choạc 
o Chúng ta muốn công việc ổn định và giá cả ổn định.
o Các chính sách kinh tế của chính phủ hướng tới việc giữ cho nó ổn định.
Chính sách kinh tế 
- Chính phủ liên bang có thể ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế thông qua chính sách kinh tế. 
- Chính sách kinh tế là phương tiện mà chính phủ liên bang dùng để kích thích hoặc chế ngự tăng trưởng kinh tế. 
- Có hai loại chính sách kinh tế: chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. 
o Chính sách tài khóa là việc sử dụng chi tiêu của chính phủ và thuế để tác động tới nền kinh tế (thuật ngữ “tài khóa” chỉ những vấn đề thuộc ngân sách).
o Chính sách tiền tệ chỉ những biện pháp dùng để tác động tới lượng tiền trong nền kinh tế.
o Các chính phủ sử dụng cả chính sách tài khóa và tiền tệ để giữ nền kinh tế tăng trưởng. Tuy nhiên, các chính sách này thể hiện hai trường phái tư duy kinh tế khác nhau, và mỗi trường phái đều có tính cực đoan của nó
Chính sách tài khóa: thuế và chi tiêu 



Ngân sách chính phủ có hai mặt – thuế và chi tiêu – nên chính phủ có 04 công cụ trong chính sách tài khóa. 
o Tăng hoặc giảm chi tiêu
o Tăng hoặc giảm thuế

Làm nóng nền kinh tế 
o Nếu chính phủ tăng chi tiêu, điều đó sẽ làm nóng nền kinh tế bởi: 
§ Nó làm tăng G trong công thức C + I + G. Nó sẽ làm tăng cầu và góp phần tăng GDP.
§ Chính phủ đang bơm tiền vào tài khoản của các doanh nghiệp và túi của người tiêu dùng.
§ Cầu chính phủ tăng sẽ kích thích các khu vực khác và do đó sẽ thúc đẩy nền kinh tế. 
o Việc tăng chi tiêu chính phủ để kích thích phục hồi được gọi là kích thích bằng tài khóa. Điều này đúng bất kể chính phủ: 
§ Sử dụng tiền thu được từ thuế
§ Hay vay tiền bằng cách phát hành trái phiếu.
o Chi tiêu thâm hụt 
§ Xảy ra khi một chính quyền địa phương hoặc chính phủ chi tiêu nhiều hơn số thu được từ thuế trong một thời kỳ nhất định.
§ Điều này chỉ ra rằng chính phủ tiêu tiền kể cả khi ngân sách thâm hụt;
§ Số tiền được chi tiêu trong thời kỳ đó không có nguồn gốc từ thuế nên chính phủ phải đi vay, và vay bằng cách phát hành trái phiếu.


Làm nguội nền kinh tế 
o Khi nhận thấy nền kinh tế đang quá “nóng” và lạm phát đang tăng, chính phủ có thể làm “nguội” nền kinh tế bằng cách làm ngược lại. Cắt giảm hoặc trì hoãn chi tiêu, chính phủ sẽ làm giảm cầu và điều đó sẽ tác động tới toàn bộ nền kinh tế. 
- Thuế cũng có những hiệu ứng tương tự. 
o Muốn kích thích nền kinh tế, chính phủ có thể giảm thuế thay vì tăng chi tiêu.
Điều này sẽ làm cho người tiêu dùng và doanh nghiệp có nhiều tiền trong tay hơn, và số tiền đó sẽ có xu hướng được chi tiêu.
o Mặt khác, thuế tăng sẽ lấy bớt tiền của người tiêu dùng và doanh nghiệp, và làm “nguội” nền kinh tế.
Chính sách tiền tệ: tiền làm thế giới quay 

GDP = cung tiền x tốc độ lưu thông 
o Cung tiền: lượng tiền trong lưu thông cộng với tiền gửi trong tài khoản tiết kiệm và tài khoản phát séc
o Tốc độ lưu thông của tiền là số lần tổng lượng cung tiền được chuyển qua tay hoặc quay vòng trong nền kinh tế.
o Chia GDP cho cung tiền sẽ có tốc độ lưu thông tiền tệ
- Một nền kinh tế vận hành được là nhờ tiền. Vì vậy, lượng tiền sẵn có tác động tới quy mô của nền kinh tế. 
o Chính sách tiền tệ cho phép chính phủ tác động tới lượng cung tiền và do đó tác động tới tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. 
o Trên thực tế, chính phủ sử dụng kết hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ để ổn định và phát triển kinh tế. 
Vai trò của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ 
- Ngân hàng trung ương của một quốc gia là ngân hàng của các ngân hàng 
- Kiểm soát cung tiền ở Mỹ 



FED tác động tới nền kinh tế theo 03 phương pháp chính: Thay đổi lãi suất; Mua bán chứng khoán chính phủ; Phát ngôn về nền kinh tế 
Thay đổi lãi suất để thay đổi mọi thứ 
o Lãi suất là “giá của tiền”, là mức giá mà người đi vay phải trả cho số tiền được vay trong những hoàn cảnh khác nhau. Mặc dù tiền thì vẫn luôn như thế (1.000 đô-la lúc nào cũng là 1.000 đô-la) nhưng giá của nó phụ thuộc vào việc ai là người vay tiền.
o Rủi ro không hoàn trả được tiền càng cao thì lãi suất càng cao. 
o Lãi suất cũng phụ thuộc vào: 
§ Lượng cung tiền mà FED kiểm soát
§ Cầu tiền của người tiêu dùng, các doanh nghiệp và chính phủ.
o Lãi suất càng thấp: 
§ Việc hoàn trả khoản vay càng dễ dàng.
§ Người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ vay nợ
§ Bắt đầu chi tiêu, tăng cầu và khởi động một chu kỳ đi lên.
o Tăng lãi suất
§ Để làm nguội một nền kinh tế “quá nóng”.
§ Khi FED tăng lãi suất: 
· Tiền đắt hơn
· Người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ vay ít hơn
· Tiêu dùng chậm lại và cầu giảm.
o Vì không muốn lạm phát nên FED sẽ: 
§ Tăng lãi suất ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của lạm phát. FED ấn định:
· Lãi suất của các khoản vay ngắn hạn giữa các ngân hàng với
nhau (lãi suất quỹ liên bang)
· Lãi suất mà FED cho các ngân hàng vay (lãi suất chiết khấu).
§ Do vậy, FED thường bị buộc tội “chọc gậy bánh xe”


Mua! Bán! 
o FED cũng kiểm soát việc bán và mua các chứng khoán chính phủ (nợ chính phủ) và có thể sử dụng công cụ này để tác động tới cung tiền. 
§ Khi muốn làm nguội nền kinh tế: 
· FED bán trái phiếu và rút bớt tiền khỏi lưu thông. Nếu các doanh nghiệp và người tiêu dùng mua trái phiếu chính phủ, họ sẽ có trái phiếu và chính phủ sẽ có tiền của họ.
· Càng ít tiền trong lưu thông thì càng ít chi tiêu, ít tăng trưởng kinh tế và nền kinh tế sẽ nguội bớt.
§ Khi muốn làm nóng nền kinh tế: 
· FED mua trái phiếu chính phủ. Việc này sẽ đặt tiền trở lại vào tay doanh nghiệp và người tiêu dùng
· Và do đó, đặt tiền trở lại lưu thông, nghĩa là chi tiêu nhiều hơn
và nền kinh tế lại đi lên.


Khi FED phát ngôn…

o Chức năng phát ngôn này được gọi là “sự thuyết phục mang tính đạo đức”.
Truyền các thông báo tới các ngân hàng, người tiêu dùng và doanh nghiệp để khiến họ “làm những điều đúng đắn” cho nền kinh tế.

MBA Basic - Ha Noi 19/9/2020

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

5 cách tăng doanh số bán hàng


o Tăng giá bán
o Bán nhiều sản phẩm hiện có hơn tới khách hàng hiện tại
o Bán sản phẩm mới tới khách hàng hiện tại
o Bán sản phẩm hiện có tới khách hàng mới
o Bán sản phẩm mới tới khách hàng mới 

                  
  
Tăng giá bán 
- Nếu bạn có quyền lực trên thị trường  – có ít đối thủ cạnh tranh và khách hàng không có lựa chọn khác  – thì giá của bạn tăng lên có thể vẫn “dính”. 
- Không phải là một chiến lược có thể theo đuổi lâu dài. 
- Một sản phẩm không ngừng tăng giá sẽ nhanh chóng không còn sức cạnh tranh.
- Khách hàng thường học cách sống mà không cần tới những công ty đang đục khoét họ.


Bán nhiều sản phẩm hiện có hơn tới những khách hàng hiện tại 

- Chiến lược này “thúc đẩy sản phẩm” và có thể đạt hiệu quả. Nó dựa trên ý tưởng rất hợp lý rằng khách hàng tiềm năng tốt nhất chính là khách hàng hiện tại. 
- Phát huy tác dụng nếu khách hàng hiện tại của bạn chưa được phục vụ tốt nhất hoặc dòng sản phẩm của bạn rộng, hoặc cả hai. 
- Nếu bạn mới chỉ phục vụ một phần nhu cầu của khách hàng hiện tại và bạn có một dòng sản phẩm rộng, thì bạn có cơ hội bán chéo chúng – tức là chào mời họ những sản phẩm khác. 
- Bạn cũng có thể chào mời những mức giảm giá theo số lượng và tìm ra những cách thức ràng buộc khách hàng chặt chẽ hơn, có thể bằng cách đưa họ lên một hệ thống điện tử phục vụ việc mua và thanh toán tự động.
- Bất kỳ điều gì khiến việc quan hệ làm ăn với công ty của bạn dễ dàng hơn đều có thể có tác dụng. 
- Bán chéo là đến với khách hàng đã mua một loại sản phẩm của bạn rồi và bán cho họ một loại khác. Câu hỏi: “Anh có thích sản phẩm đó nhưng thuộc loại khác không?” là ví dụ thông dụng nhất của bán chéo. 


Bán sản phẩm mới tới khách hàng hiện tại 

- Ngay cả khi bạn đã có được sự thỏa mãn của khách hàng, thì vẫn còn một ai đó có thể làm khách hàng hài lòng hơn nữa hoặc vẫn có thể có giá rẻ hơn nữa. Vì thế, bạn phải luôn cải tiến các sản phẩm hiện có và phát triển những sản phẩm mới. 
- Khách hàng hiện tại có thể là khách hàng tiềm năng tốt nhất cho sản phẩm mới, đặc biệt là sản phẩm giải quyết được những vấn đề mà bạn đã biết khi bán sản phẩm cũ.


Bán sản phẩm hiện có tới khách hàng mới 

- Thường xuyên tự hỏi: “Ai nữa sẽ mua sản phẩm này? Ai nữa có khả năng sử dụng nó?”
- Đừng bao giờ ngừng nghỉ việc tìm kiếm khách hàng mới. 
- Bị mất ít nhất là một số khách hàng mỗi năm. Ngay cả những tài khoản tốt nhất của bạn cũng có thể rời bỏ bạn, vì một số lý do – một sản phẩm tốt hơn hay một mức giá tốt hơn từ một đối thủ cạnh tranh, xích mích với một nhân viên bán hàng, hay đơn giản chỉ là một mong muốn thay đổi. 
- Một khách hàng tiềm năng mà bạn không tiếp cận chính là người mà một đối thủ cạnh tranh chắc chắn sẽ giành được. Vì sao lại không cố gắng giữ công việc của mình?
- Các thị trường mới cho sản phẩm đang tồn tại có thể mở ra những hoạt động kinh doanh
mới. 


Bán sản phẩm mới tới khách hàng mới 

- Khi doanh số của sản phẩm bắt đầu thoải dần – thường vào giai đoạn thị trường chín muồi hay bão hòa – bạn có ba lựa chọn:
o (1) đóng cửa cửa hàng hoặc bán cơ sở kinh doanh;
o (2) cố gắng tồn tại nhờ các hoạt động kinh doanh lặp lại hoặc thay thế;
o (3) bán sản phẩm mới tới khách hàng mới.

o Lựa chọn thứ ba là tốt nhất – miễn là bạn cần có một doanh nghiệp tăng trưởng
- Đừng chờ đợi tới khi thị trường của bạn bão hòa với những sản phẩm cũ của bạn, lúc đó mới phát triển sản phẩm mới. 
- Bán sản phẩm mới tới khách hàng mới có lẽ là chiến lược có sức mạnh nhất trong năm chiến lược tăng trưởng. 
- Sản phẩm mới này có thể lại là thứ khó phát triển nhất. Thường phát triển sản phẩm mới cho các thị trường hiện có của họ, ngay cả khi họ đã bước vào một loại hình kinh doanh mới 
- Thị trường chín muồi xảy ra khi sản phẩm đã đạt được sự chấp nhận rộng rãi và tăng trưởng doanh số dần chững lại.
- Bão hòa xảy ra khi khách hàng tiềm năng, những người muốn, cần và có thể trả tiền cho sản phẩm của bạn đều đã có một sản phẩm. Có thể sẽ khó nhận biết khi nào sản phẩm đã bão hòa trên thị trường của nó, bởi điều đó phụ thuộc vào tiềm năng thị trường thật sự cho sản phẩm. 

Tạo sự khác biệt cho sản phẩm 

- Các sản phẩm thành công mang đến cho khách hàng một sự khác biệt, một cái gì đó tốt  hơn. 
- Ngay cả các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu bằng giá cũng cần phải có sự khác biệt nào đó. 
- Marketing đóng vai trò lớn trong việc tạo ra và làm nổi bật sự khác biệt của sản phẩm

Cải tiến chức năng của sản phẩm 
- Những cải tiến của sản phẩm phải được công bố và được “hiện thực hóa” trên thị trường, và đó chính là thách thức đối với marketing. 
- Tạo ra một cái bẫy chuột thôi chưa đủ. Bạn phải cho mọi người nhìn thấy và nói với mọi người rằng nó tốt hơn. 
- Cải tiến chức năng liên quan đến những thứ khách hàng cần đến và sẽ trả tiền cho chúng. Nếu bạn mang đến những cải tiến mà khách hàng không quan tâm, thì bạn đã không tạo được sự khác biệt có ý nghĩa cho sản phẩm, ngoài các khoản chi phí sản xuất tăng thêm. 

Cải tiến hình thức sản phẩm 
- Xã hội hiện đại được định hướng vào thị giác. 
- Hình thức của một sản phẩm quan trọng không kém gì hoạt động của nó.
- Thiết kế – hỗn hợp của hình thức và chức năng – quy định hình thức của sản phẩm, hiện là một yếu tố đầy sức mạnh tạo nên sự khác biệt của sản phẩm. 

Cải thiện hình ảnh sản phẩm 
- Nhiều người khẳng định bản thân bằng những thứ họ mua và sử dụng. 
- Nhờ quảng cáo, truyền hình và phim ảnh, sản phẩm truyền đi những hình ảnh nhất định về sự giàu có, tuổi trẻ, địa vị, sự sành điệu, sự gợi cảm, sức khỏe, sự quan tâm, ý thức về môi trường, quyền lực, và cả sự nguy hiểm. 
- Những hình ảnh này thường vượt ra khỏi phạm vi chất lượng sản phẩm đơn thuần.
- Khách hàng nói: “Khi tôi mua sản phẩm này, tôi đang nói rằng tôi đánh giá cao những hình ảnh này và rằng chính tôi đã có được chúng.”


MBA Căn bản


Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2020

Những cây sồi đều lớn lên từ những hạt sồi… - nắm giữ tiền mặt

 Đến giờ, công việc kinh doanh của bạn đã tăng trưởng, vận hành tốt

và có lợi nhuận. Đã đến lúc kiểm tra lại tình trạng tài chính của bạn. 




Có một sự khác nhau khá lớn giữa lợi nhuận và vòng quay tiềnmặt. Có khá nhiều ví dụ đáng buồn về những doanh nghiệp tuyệt vời, có những sản phẩm tuyệt vời, lợi nhuận tốt và lượng khách hàng lớn, nhưng lại bị phá sản vì họ không có đủ tiền trong ngân hàng để quay
vòng vốn trong khoảng thời gian ngắn.

Khi khởi nghiệp, bạn sẽ nghe rất nhiều về điều này, và nó hoàn toàn chính xác: "
Doanh số là hư ảo, lợi nhuận là sự tỉnh táo, tiền mặt là thực tế".




Tiền của bạn có thể bị khách hàng chiếm dụng khi họ không thanh toán đúng hạn (hoặc không thanh toán), quá nhiều hàng tồn kho hay chi phí quá nhiều vào trang thiết bị và các chi phí cố định.
Thực tế là những doanh nghiệp phát triển nhanh nhất lại là những
doanh nghiệp chịu rủi ro nhiều nhất từ vấn đề này 
– mà thuật ngữ là  “kinh doanh vượt quá khả năng vốn’.

Vòng quay tiền mặt tốt sẽ giúp công việc kinh doanh của bạn thành công và có một điều chắc chắn: Vòng quay tiền mặt kém sẽ hủy hoại doanh nghiệp nhanh hơn bất kỳ thứ gì.  




Vậy thì làm thế nào để điều này không xảy ra với bạn?
Bạn phải học cách kiểm soát tiền của mình giống như là gà mẹ bảo vệ đàn gà con trước lũ diều hâu. Thật không may, có một vài doanh
nghiệp tinh ranh và họ có thể quậy phá những doanh nghiệp mới nổi.

Hãy nhớ, cái gì có vẻ quá tốt thì lại là thứ mà bạn cần phải thận trọng.
  

Những cây sồi đều lớn lên từ những hạt sồi…  .

Quản lý thời gian

 

Tôi rất thích áp dụng kỳ hạn hoàn thành trong công việc. Tôi
thường hoàn thành công việc trước kỳ hạn đề ra. (Douglas
Adams)




Quản lý thời gian nghe có vẻ như là một việc tầm thường? Nhưng
cuộc sống này chính là do thời gian tạo nên.

Khi mới gây dựng cơ nghiệp, về cơ bản bạn sẽ phải làm mọi thứ, từ
việc gọi văn phòng phẩm cho đến rửa cốc chén. Ban đầu, mọi việc
diễn ra ổn thỏa (và mất ít chi phí), đem lại cho bạn cảm giác thích thú khi thấy mọi thứ đang vận hành.

Tuy nhiên, sau đó bạn sẽ nhận ra mình chỉ còn 20% thời gian để
làm những công việc có thể tạo ra 80% giá trị kinh doanh. Nếu bạn
không phân biệt được việc nào quan trọng trong kinh doanh và việc
nào không (hoặc người khác làm tốt hơn), bạn sẽ bị mắc kẹt vào việc
làm một công việc duy nhất đến 10 năm. 

Nếu bạn muốn phát triển một doanh nghiệp có lợi nhuận cao,
bạn không thể dành cả ngày chỉ để dán phong bì thư
 




Nếu công việc của bạn liên quan đến máy tính, hãy xóa hết các chương trình game trong máy tính – ngay bây giờ! Chúng làm giảm năng suất của bạn rất nhiều.

Bắt đầu ngày mới bằng một nhiệm vụ đơn giản. Bố tôi có một
cách khá hay: khi viết, ông luôn để dở đoạn cuối cùng. Vậy là sáng
hôm sau, ông có một cách đơn giản để bắt đầu làm việc.

Tránh bị gián đoạn bởi bạn bè, thư từ, email. Hãy dành một
khoảng thời gian trong ngày cho những thứ này.

Tìm ra khoảng thời gian sáng tạo nhất trong ngày của bạn. Hãy
làm những việc quan trọng hoặc khó khăn vào thời gian đó.

Cho phép mình nghỉ ngơi. Bạn không phải là một con rô-bốt –
hãy tự thưởng cho mình khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Hãy ra
ngoài hít thở không khí trong lành.

Dành ra một khoảng thời gian trống. Khi lên kế hoạch cho một
dự án, hãy dành một tuần cuối cho việc tưởng tượng.

Hiểu rằng công việc khẩn không có nghĩa là quan trọng. Bằng
cách suy nghĩ và hành động vì mục đích lâu dài, bạn có thể cứu
vãn được rất nhiều cuộc khủng hoảng
 .


Muốn giàu có, bạn cần phải làm ba việc: dậy sớm, làm việc
chăm chỉ và đào đúng mỏ dầu. (John Paul Getty, tỷ phú dầu
mỏ người Texas)
 - MBA 



Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Sự ra đời ngẫu nhiên của quản lý

Bức tranh vẽ cảnh xây dựng Kim tự tháp có thể giúp chúng ta hiểu
rõ ý niệm về quản lý. Trong bức vẽ, ta thấy có công nhân, đốc công và người quản lý. Đốc công là người cầm roi da và xích. Còn công nhân là những người di chuyển 400 tỷ tấn đá để xây Kim tự tháp cho Hoàng đế của họ



Người ta kể rằng, Hoàng đế Ai Cập nảy sinh ý tưởng xây dựng Kim tự tháp khi đang ngồi ăn nho và chơi đùa với vợ con. 
Ông chợt nhận ra giây phút tuyệt vời này không kéo dài mãi mãi, vì ai rồi cũng phải chết.
 Ông nghĩ: “Phải có cách nào đó để mọi người tưởng nhớ tới sự vĩ đại của mình”, “phải biến mình thành vĩnh cửu.” 
Sau một giây phân vân, ông reo lên: “Sao ta không xây một đền thờ hay dựng một tảng đá lớn nhỉ? 
Phải rồi, một Kim tự tháp! Lăng mộ của một Hoàng đế.
 Lăng mộ vĩ đại nhất chưa ai từng có, lớn hơn bất cứ công trình nào con người từng xây dựng trước đây.”


Và từ lúc đó, ý tưởng này luôn ám ảnh ông. Ông quyết tâm xây dựng Kim tự tháp bằng mọi giá. 

Ông triệu tập tất cả các tướng lĩnh (các Nhà quản lý cấp cao), các quan giám sát (các Nhà quản lý cấp trung), và các đốc công (các Nhà quản lý cấp cơ sở). Ông giao khát vọng của mình vào tay những kẻ biết dùng roi và xích để biến nó thành hiện thực.





Đó là lý do tại sao trong khi Hoàng đế bình thản ngồi ăn nho thì
các tướng lĩnh lo lắng tính toán, còn các quan giám sát lăm lăm sổ
sách và đôn đốc nô lệ làm việc. Còn hàng nghìn nô lệ phải làm việc
đến kiệt sức. Và Kim tự tháp vĩ đại mọc lên một cách thần kỳ trên sa mạc hoang vắng, từ một ý tưởng mong manh của vị Hoàng đế, biến thành công trình vĩ đại chưa ai từng thấy.

Trong khi biến ước mơ của vị Hoàng đế thành hiện thực, những con người đó cũng bắt đầu hình thành những ý tưởng vĩ đại.
Họ nghĩ nếu ông ấy làm được thì ta cũng làm được, thậm chí còn hơn thế.
 Và Vạn lý Trường thành, cuộc Cách mạng tháng Mười Nga vĩ đại hay nhãn hiệu McDonald’s, Microsoft và CNN,... cũng vậy.
Tất cả đều được tạo dựng theo cách thức người ta xây dựng Kim tự tháp đầu tiên.  

Những khó khăn của các Nhà quản lý hiện đại

Các Hoàng đế thời nay 
– chúng ta gọi họ là những người có tầmnhìn xa 
– dựa vào cách thức quản lý mới, không hoàn toàn khác biệt với cách thức quản lý cũ nhưng có thêm một số đặc trưng mới: thứ nhất, đó là ảnh hưởng của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật giúp chúng ta giảm bớt thời gian thực hiện công việc; thứ hai, đó là kết quả của việc áp dụng tái cơ cấu doanh nghiệp, giúp chúng ta giảm bớt nhân lực thực hiện công việc.

Không có gì khó hiểu khi các Nhà quản lý thời hiện đại cảm thấy buồn chán.

Khi không còn phải lao động chân tay, Nhà quản lý trở thành “tay
sai” của các “Hoàng đế”. Họ đối mặt với thách thức này bằng một thái độ nghiêm túc. Họ mua sách kinh tế và quản lý do các nhà tư vấn và học giả viết. Họ tham gia các khóa đào tạo, các buổi thảo luận và hội thảo, để được tán dương là những chuyên gia mới của thế kỷ XX.




Giống như bác sỹ, luật sư và giới tăng lữ, các Nhà quản lý cũng cảm thấy mình đóng góp một phần to lớn cho xã hội, và kinh doanh đã nhanh chóng trở thành một thứ tôn giáo mới.

 Họ gán cho nơi làm việc những từ như “văn hóa doanh nghiệp.” Họ bàn về “chất lượng”, “giá trị cốt lõi”, và “sứ mệnh”. Họ nói về việc sáng tạo ra “linh hồn” của doanh nghiệp. Họ nói về “tinh thần” và “ý nghĩa”, và giao phó ước mơ của mình cho cấp dưới thực hiện.




 Họ học hỏi tinh thần lãnh đạo  và học cách phân biệt mình
 – Nhà quản lý xuất chúng 
– với các Nhà quản lý bình thường khác. 
Họ coi tất cả đều là khoa học. 
Rằng nhà lãnh đạo là do đào tạo mà thành chứ không phải do bẩm sinh. 
Rằng anh có thể học bảy kỹ năng cần thiết hay sáu thói quen hiệu quả, hay mẹo để trở thành Nhà quản lý trong một phút. 

Họ lắng nghe chăm chú, và học hỏi mọi mưu mẹo, nhưng mọi thứ vẫn như cũ, bởi Nhà quản lý – và những chuyên gia, những người giảng dạy – mới chỉ chữa triệu chứng chứ chưa chạm tới căn nguyên của vấn đề.  

MBA


Copyright © 2012 Nguyen Đinh Binh .